SÂU ĐỤC THÂN HẠI LÚA – NỖI LO CỦA NHÀ NÔNG
Sâu đục thân hại lúa – một đối tượng dịch hại không mới đối với nhà nông canh tác ruộng lúa nhưng tại sao việc quản lý lại chưa thật sự hiệu quả, gây thiệt hại về năng suất, có khi lên đến 40 – 50%. Muốn quản lý tốt đối tượng dịch hại này, Quý Bà Con cần tìm hiểu về tập quán sinh sống, vòng đời và quy luật gây hại để từ đó có giải pháp quản lý thích hợp, tiết kiệm chi phí. Cùng tìm hiểu với ThS Lê Thanh Hùng trong bài viết sau nhé
Phần 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH... Nhiều hơnSÂU ĐỤC THÂN HẠI LÚA – NỖI LO CỦA NHÀ NÔNG
Sâu đục thân hại lúa – một đối tượng dịch hại không mới đối với nhà nông canh tác ruộng lúa nhưng tại sao việc quản lý lại chưa thật sự hiệu quả, gây thiệt hại về năng suất, có khi lên đến 40 – 50%. Muốn quản lý tốt đối tượng dịch hại này, Quý Bà Con cần tìm hiểu về tập quán sinh sống, vòng đời và quy luật gây hại để từ đó có giải pháp quản lý thích hợp, tiết kiệm chi phí. Cùng tìm hiểu với ThS Lê Thanh Hùng trong bài viết sau nhé
Phần 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ VÒNG ĐỜI CỦA SÂU ĐỤC THÂN 2 CHẤM
✅ Các loại Sâu Đục Thân (xem hình 1)
• Sâu đục thân bướm hai chấm
• Sâu đục thân năm vạch đầu nâu
• Sâu đục thân năm vạch đầu đen
• Sâu bướm Cú mèo.
Trong các loại nêu trên, thì sâu đục thân hai chấm hại lúa là loại được phát hiện nhiều nhất với tỉ lệ lên đến 95 – 98%. Do đó trong bài viết lần này sẽ tập trung vào đối tượng sâu Đục thân 2 chấm, ở các kỳ tiếp theo sẽ cung cấp thêm thông tin về các đối tượng sâu đục thân còn lại cùng Quý Đọc Giả
✅ Đặc điểm hình thái
Về đặc điểm hình thái, có 4 hình thái theo 4 giai đoạn phát triển của sâu đục thân hại lúa. Bà con cần nắm rõ để quan sát và theo dõi đồng lúa (xem hình 2)
Trứng đẻ thành ổ, hình bầu dục, trên mặt ổ trứng có phủ lớp lông màu vàng nhạt.
Sâu non màu trắng sữa - vàng nhạt. Sâu non tuổi 1 đầu có màu đen, tuổi 2 đến tuổi 5 có màu nâu.
Nhộng: Nhộng cái và nhộng đực sẽ có đặc điểm hình dạng khác nhau. Nhộng cái sẽ có chân sau chỉ dài đến đốt bụng thứ 5, riêng nhộng đực thì dài đến đốt bụng thứ 8. Giai đoạn đầu nhộng sẽ có màu trắng sữa rồi chuyển màu vàng nhạt sau một khoảng thời gian.
Trưởng thành: màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, cánh trước mỗi bên có một chấm đen rất rõ, phía cuối bụng có chùm lông màu vàng. Khi đậu có hình khum như mái nhà.
✅ Vòng đời
Sâu đục thân lúa bướm 2 chấm thường có vòng đời giao động từ 43 – 66 ngày. Tuỳ vào nhiệt độ, môi trường mà mỗi giai đoạn sẽ có thời gian phát triển riêng (xem hình 2):
– Nhiệt độ từ 19 – 25oC: Trứng (8 – 19 ngày) - Sâu non (36 – 39 ngày) - Nhộng (12 – 16 ngày) - Bướm vũ hoá và đẻ trứng (3 ngày)
– Nhiệt độ từ 26 – 30oC: Trứng (7 ngày) - Sâu non (25 – 33 ngày) - Nhộng (8 – 10 ngày) -
Bướm vũ hoá và đẻ trứng (3 ngày)
✅ Đặc điểm gây hại:Sâu đục thân gây hại biến đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và tuổi phát dục của sâu. Lúa từ thời kỳ mạ đến lúc trỗ bông đều có thể bị hại.
- Trong giai đoạn gieo mạ hoặc lúa làm đòng: sâu đục thân lúa đục xuyên qua bẹ lá bên ngoài, đục vào đến nõn giữa, hút chất dinh dưỡng làm cây mạ bị chết khô, dảnh lúa bị héo, dễ bị đứt gốc khi nhổ.
- Thời kỳ đẻ nhánh: sâu đục vào phần dưới của thân, cắt đứt con đường dẫn nhựa làm cho lá non trước tiên bị cuốn dọc, có màu xanh tái sẫm, dần chuyển sang màu vàng và héo khô.
- Giai đoạn lúa đứng cái làm đòng: sâu non tập trung phá hại phía trong bẹ và đục vào ống.
- Thời kỳ trổ bông: sâu đục vào cuống bông, cắt đứt sự vận chuyển dinh dưỡng của bông lúa hoặc sâu tuổi nhỏ tập trung cắn nát đòng, bông lúa không trổ hoặc nếu trổ thì các hạt bị lép trắng (bạc bông). (xem hình 3)
Cùng một giống lúa, giai đoạn sinh trưởng khác nhau mức độ hại khác nhau, lúa ở thời kỳ đẻ nhánh rộ, làm đòng, trỗ gặp lứa sâu ra rộ thì mức độ bị hại có khả năng lớn hơn so với các giai đoạn sinh trưởng khác.
Bướm vũ hóa sau khi lúa trỗ hoặc trùng với thời gian lúa trỗ tỷ lệ bị hại nhẹ, bướm vũ hóa rộ trước khi lúa trỗ từ 5 - 7 ngày, tỷ lệ bị hại rất nặng.
Mời Quý Bà Con đón xem Phần 2: Biện Pháp Quản lý Sâu Đục Thân Hại Lúa